User Tools

Site Tools


067530-qu-n-o-n-3-qu-n-i-nh-n-d-n-vi-t-nam-la-gi

Quân đoàn 3, còn gọi là Binh đoàn Tây Nguyên là một trong bốn quân đoàn chủ lực cơ động của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập ngày 26 tháng 3 năm 1975 tại Tây Nguyên.[1]

Chiến dịch Tây Nguyên thành công lớn, quân đội Việt Nam Cộng hòa bị xóa sổ khỏi Tây Nguyên và bỏ chạy về duyên hải miền trung. Ngày 26 tháng 3 năm 1975, các đơn vị chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam tại Tây Nguyên tập hợp lại thành một đơn vị cấp quân đoàn.[2] Khi đó gồm có: Sư đoàn 316 (đoàn Bông Lau); Sư đoàn 10 (đoàn Đăktô), Sư đoàn 320 (đoàn Đồng Bằng); Sư đoàn 2 Quảng - Đà ở phía bắc quân khu; Trung đoàn xe tăng 273, Trung đoàn đặc công 198 và một số đơn vị hỗ trợ.

Ngay sau khi thành lập, quân đoàn 3 hành quân cơ giới xuống Nam bộ, tập kết ở Củ Chi và đánh Đồng Dù, riêng Sư đoàn 2 trở lại Quân khu 5 rồi tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, tiến công Sài Gòn từ hướng Tây Bắc.[3], Trung đoàn 198 tăng cường cho sư đoàn đặc công của Lê Bá Ước.

Sau ngày thống nhất đất nước, Quân đoàn 3 trú ở khu vực Tây Nguyên và Trung bộ, tham gia truy quét FULRO.[3] Quân đoàn 3 có thêm Sư đoàn 31 (đoàn Lam Hồng) từ khu vực Cánh Đồng Chum trở về.

Từ năm 1978, Quân đoàn 3 truy quét đánh đổ Khmer Đỏ và giải phóng toàn bộ Campuchia.[3]

Từ năm 1979 Quân đoàn bàn giao toàn bộ địa bàn Campuchia cho Quân đoàn 4 tiếp quản. Sư đoàn 316 và Sư đoàn 31 được gọi ra bắc để thành lập tuyến phòng thủ Sông Cầu chống quân Trung Quốc từ năm 1979 đến 1987 trong chiến tranh biên giới phía bắc tại Bắc Thái.[3]

Từ năm 1987, Quân đoàn 3 trở lại đóng quân ở khu vực Tây Nguyên.[3]

Tổ chức chung[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 2006 thực hiện chế độ Chính ủy, Chính trị viên trong Quân đội.[4] Tổ chức Đảng bộ trong Quân đoàn 3 theo phân cấp như sau:

  • Đảng bộ Quân đoàn 3 là cao nhất.
  • Đảng bộ Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật, các Sư đoàn, Lữ đoàn và các đơn vị tương đương khác.
  • Đảng bộ các đơn vị cơ sở trực thuộc các Cục, Sư đoàn (tương đương cấp Tiểu đoàn và Trung đoàn)
  • Chi bộ các cơ quan đơn vị trực thuộc các đơn vị cơ sở (tương đương cấp Đại đội)

Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Về thành phần của Đảng ủy Quân đoàn 3 thường bao gồm như sau:

  1. Bí thư: Chính ủy Quân đoàn 3
  2. Phó Bí thư: Tư lệnh Quân đoàn 3

Ban Thường vụ

  1. Ủy viên Thường vụ: Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng
  2. Ủy viên Thường vụ: Phó Tư lệnh về động viên
  3. Ủy viên Thường vụ: Phó Tư lệnh về quân sự, chính sách

Ban Chấp hành Đảng bộ

  1. Đảng ủy viên: Phó Tư lệnh
  2. Đảng ủy viên: Phó Tư lệnh
  3. Đảng ủy viên: Phó Chính ủy
  4. Đảng ủy viên: Cục trưởng Cục Chính trị
  5. Đảng ủy viên: Phó Tham mưu trưởng
  6. Đảng ủy viên: Phó Tham mưu trưởng
  7. Đảng ủy viên: Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320
  8. Đảng ủy viên: Sư đoàn trưởng Sư đoàn 10
  9. Đảng ủy viên: Sư đoàn trưởng Sư đoàn 31
  10. Đảng ủy viên: Cục trưởng Cục Hậu cần hoặc Cục Kỹ thuật
  11. Đảng ủy viên: Lữ đoàn trưởng
  12. Đảng ủy viên: Lữ đoàn trưởng

Cơ quan trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Văn phòng
  • Thanh tra
  • Phòng Tài chính
  • Phòng Khoa học Quân sự
  • Phòng Thông tin KHQS
  • Phòng Điều tra hình sự
  • Phòng Cứu hộ cứu nạn
  • Phòng Kinh tế
  • Bộ Tham mưu
  • Cục Chính trị
  • Cục Hậu cần
  • Cục Kỹ thuật

Đơn vị trực thuộc Quân đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn vị trực thuộc Cục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tiểu đoàn Thông tin 29, Bộ Tham mưu[15]
  • Tiểu đoàn Hóa học 21, Bộ Tham mưu
  • Tiểu đoàn Vệ binh 27, Bộ Tham mưu
  • Tiểu đoàn Trinh sát, Bộ Tham mưu
  • Tiểu đoàn Đặc công, Bộ Tham mưu
  • Bảo tàng Quân đoàn, Cục Chính trị
  • Viện Kiểm sát Quân đoàn, Cục Chính trị
  • Xưởng In, Cục Chính trị
  • Tiểu đoàn Vận tải 827, Cục Hậu cần[16]
  • Bệnh viện Quân y 211, Cục Hậu cần[17]
  • Tiểu đoàn 30, Cục Kỹ thuật

Tư lệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chính ủy, Phó Tư lệnh chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thiếu tướng Lê Xuân Thanh: Phó Tư lệnh Chính trị.
  • 1980–1983, Hà Quốc Toản, Thiếu tướng (1989), Phó Tư lệnh về Chính trị
  • 1985–1987, Hà Quốc Toản, Thiếu tướng (1989), Phó Tư lệnh về Chính trị
  • 1987-1990, Tiêu Văn Mẫn, Trung tướng (1994), Phó Tư lệnh về Chính trị
  • 2004-2007, Nguyễn Tuấn Dũng, Trung tướng (2008), Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.
  • 2007-2010, Hà Minh Thám, Trung tướng, Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật
  • 2010-2014, Chu Công Phu (1956-), Thiếu tướng (2010), sau làm Phó Chính ủy Học viện Chính trị
  • 2014-10.2016, Nguyễn Duy Quyền, Thiếu tướng (2014)[19]
  • 10.2016- 04.2018, Lê Quang Xuân, Thiếu tướng (2017)[20]
  • 04.2018- nay, Bùi Huy Biết (Đại tá)

Các tướng lĩnh khác[sửa | sửa mã nguồn]

067530-qu-n-o-n-3-qu-n-i-nh-n-d-n-vi-t-nam-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:10 (external edit)